← Tất cả truyện

Truyện số 1230 · 29 tháng 8, 2026

Hai Niềm Vui

Một vị thầy kể về hai cách hưởng thụ niềm vui: khi một người đàn ông vừa mua được nhà lần đầu, ông vui đến không ngủ được; còn vị thầy khi xây xong thiền thất cũng vui, nhưng niềm vui của ông thuộc về sự an lạc của bậc thánh vì ông hiểu căn nhà này thuộc về Phật và mọi người.

an lạcphàm phu vs thánhbuông bỏtừ biniềm vui

Bầu trời chiều hôm ấy trầm xuống một màu xám nhạt trên vùng đất còn mới mẻ với tiếng kinh cầu. Lần đầu tiên kể từ thuở hồng hoang, nơi này mới có một buổi lễ niệm Phật tập thể lớn đến vậy, gần mười ngàn người tề tựu vềeducatedede. Tiếng chuông chùa vang vọng, lẫn với tiếng chân ngườiramespace, tạo nên một không khí vừa linh thiêng vừa ấm áp. Hôm nay là buổi sinh hoạt đặc biệt trước khi chính thức ra mắt Thiền Thất Bảo Quang – nơi vừa được cấp phép hoạt động tín ngưỡng.

Trên pháp tòa, vị thầy mỉm cười nhìn xuống hội chúng, giọng nhẹ nhàng: "Hôm nay chúng ta có một niềm vui. Nhưng có những cái vui của phàm phu, và có những cái vui của bậc thánh. Hôm nay ta nói về hai điều đó."

Ông thầy dừng lại, ánh mắt quét qua đám đông, rồi kể: "Có người về khoe rằng ông ấy đã chửi ai đó một trận, tát mấy bạt tay mà anh ta không dám đáp lại. Vui không? Khoái trá lắm. Đó là cái vui của phàm phu, làm tâm ta loạn động, kiêu mạn và tạo nghiệp."

Giọng ông trầm xuống, chậm rãi hơn: "Nhưng có trường hợp khác. Cũng có người kể rằng, hồi nãy bị một ông già chửi quá chừng, nhưng thấy ông ấy già rồi, chắc lẫn rồi, hiểu lầm gì đó. Anh ta cố nhịn, cứ xin lỗi mãi. Ông ấy chửi tới đâu, anh ta xin lỗi tới đó. Khoảng mười lăm phút, từ từ ông ấy hết giận rồi. Về đến đây, anh ta cũng vui. Vui vì mình nhẫn nhục được."

"Cái vui sau là vui của bậc thánh. Trong đạo gọi là an lạc. Và nó tạo ra công đức."

Câu chuyện được thầy mở ra bằng một ví dụ rất đỗi gần gũi. Ông bảo, anh Bảo Phúc – một nghệ sĩ tài hoa đến từ dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn ở Huế, gia đình vào Nam sống rất vất vả. Sau bao năm cheapest, vợ chồng anh dành dụm mua được căn nhà nhỏ đầu tiên.

"Anh Bảo Phúc kể," thầy nói, "rằng suốt đêm anh không ngủ được. Anh đi từng bước, rờ tay lên bức tường, chạm vào cái cột nhà, thì thầm: 'Cái này là của mình đây.' Lần đầu tiên có được một căn nhà trong đời, từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ, vui đến không ngủ được."

Thầy dừng lại một lúc, rồi chia sẻ: "Hôm nay, sư phụ cũng xây được một căn nhà này."

Thiền thất Bảo Quang đã hoàn thành. Mọi người đến tham quan, trầm trồ khen ngợi. Sư phụ cũng đi rờ từng cái vách, nhưng lời ông thốt ra khác hẳn: "Nhà này của Phật, nhà này của Phật..."

Một đệ tử ngồi gần đó thắc mắc, lên tiếng hỏi nhỏ: "Thưa thầy, sao thầy lại nói vậy ạ? Trên giấy tờ, thầy là người đứng tên sở hữu mà."

Thầy quay sang, nụ cười hiền hậu: "Con hỏi hay lắm. Thứ nhất, nếu sư phụ không phải là đệ tử Phật, không giảng dạy đạo lý Phật, có ai cho tiền mua đất, xây cất nhà không?"

Đệ tử lắc đầu: "Dạ không."

"Thứ hai," thầy tiếp, "tiền bạc bỏ ra xây nhà, không phải tiền của sư phụ. Là của Phật tử đàn na tín thí. Vậy giờ sư phụ nói 'nhà này của ta', có công bằng không?"

Không khí im lặng một lát. Rồi thầy nói chậm rãi, từng chữ: "Nên dù trên giấy tờ, sư phụ đứng tên hết. Nhưng trong sự thật của trời đất, căn nhà này là của Phật, của tất cả quý thầy quý cô, của Giáo hội Phật giáo, và là tài sản của đất nước Việt Nam. Sư phụ chỉ là người ở tạm, quản lý và sử dụng nó sao cho hợp lý nhất, tốt đạo đẹp đời nhất."

Ông thầy nói xong, lòng nhẹ nhõm. Ông bảo đó là "vui" – nhưng không phải vui vì có của cải riêng, mà là vui vì hiểu được sự thật, thấy mình thuộc về một dòng chảy lớn hơn. Đó là an lạc.

Để minh họa rõ hơn, thầy kể tiếp về một nguyên tắc sống ở chùa: Ai bước vào cổng, việc đầu tiên là phải được yêu thương, và phải được ăn. "Chùa là nhà," thầy nói. "Có thể thiếu nhiều thứ, nhưng cơm ăn thì không bao giờ được quyền thiếu. Ăn xong rồi, mình mới thấy chùa chính là tổ ấm, là quê hương."

Thầy nhớ lại một lần, sau khi giảng xong, thấy Phật tử ra về liền, thầy hỏi: "Sao không ăn cơm đã?" Người đó đáp: "Dạ, Phật tử đến chùa ăn cơm là chi?" Thầy ngạc nhiên, rồi cự nự: "Phật tử đến chùa phải ăn cơm! Sau này, các chùa cũng phải để Phật tử ăn cơm. Khi mình ăn ở chùa rồi, mình mới thấy chùa là nhà."

Nhưng thầy cũng đùa thêm: "Mà ăn rồi, mình sẽ bỏ chùa đi liền, vì sao? Vì chùa không có nhà vệ sinh!" Tiếng cười rộ lên khắp hội chúng.Thầy giải thích, xây nhà vệ sinh là quan trọng nhất, dù chùa chưa xây xong cũng phải làm trước, vì nó giữ người ở lại.

Thầy quay sang nhìn các em hướng dẫn viên, nghiêm túc hơn: "Tụi con phải nhớ, khi một người vừa bước vào cổng, phải tới liền đón tiếp ân cần. Hướng dẫn họ đi vào, giới thiệu ở đâu, ăn uống thế nào. Phải hiểu tâm người mới đến, họ cần gì trước: chỗ đậu xe, nhà vệ sinh, ăn uống, nghỉ ngơi. Rồi mới đến tu tập. Tu tập là cái cuối cùng. Đó là lúc ta thực hành tâm từ bi mà Phật dạy – đón tiếp nhau ân cần, đối đãi nhau tử tế."

Thầy tiếp tục câu chuyện về niềm vui, lần này về việc "nghe khen". Ông hỏi: "Nghe ai khen, ta vui không? Cái vui đó của phàm phu hay thánh?"

Một Phật tử đáp nhanh: "Của phàm phu ạ!"

Thầy lắc đầu: "Chưa chắc. Nếu nghe khen mà vui liền, chưa kịp tư duy, đó là vui của phàm phu – vì mình nghĩ hay đó là của cá nhân mình. Nhưng nếu nghe khen, mình nghĩ: 'Đây là nhờ Phật, nhờ giáo lý, nhờ thầy tổ dạy, nhờ bạn bè hỗ trợ, nhờ bao nhiêu lần thất bại...' rồi mình cúng dường hết lời khen đó cho mọi người – thì cái vui đó là vui của thánh."

Thầy cười: "Giống như sư phụ vậy. Ai khen sư phụ hát hay, sư phụ mà vui liền là sư phụ bị lừa. Vì thật ra mình hát dở. Nhưng nếu ai đó 'gồng' hết sức để khen mình, mình cảm ơn họ vì họ phải ráng lắm mới khen được. Đó cũng là vui."

Rồi thầy kể về những người cúng dường đất xây thiền thất. Nếu có người thấy vui vì "nhờ mình cúng mà thầy mới xây được", rồi cứ đi tới đi lui nhìn từng miếng đất, cái cột, thấy vui trong bụng – đó là vui của phàm phu, vì còn chấp công. Nhưng nếu có người cũng cúng, nhưng bước vào thấy thành tựu, trong lòng phủi bỏ công mình đi, nghĩ "đây là duyên trời đất, sứ mạng Phật giao cho thầy, mình chỉ phụ một phần" – người đó không có vui rộn ràng của phàm phu, nhưng được an lạc của thánh.

"Cái phủi công mình đi đó là trí tuệ Bồ Tát," thầy nhấn mạnh. "Vì chấp công nằm sâu thẳm trong tiềm thức, không ai đào bới lên được hết."

Thầy so sánh thêm về giàu và nghèo. Hỏi: "Giàu hay nghèo sướng hơn?" Đám đông đáp: "Giàu ạ!"

Thầy nói: "Phàm phu sợ nghèo, ham giàu. Nhưng bậc thánh lại thích nghèo hơn. Vì sao? Ta khổ vì ta muốn mà không có. Bậc thánh diệt cái muốn đó đi. Không muốn gì hết nên không bao giờ nghèo. Còn ta muốn nhiều quá, nên bao nhiêu vẫn chưa giàu đủ. Ví dụ sư phụ: chùa Phật Quang rồi chưa đủ, muốn thêm chùa ở Nghệ An, thêm thiền thất bảo quang, còn muốn nhiều nơi nữa. Còn muốn nhiều tức là còn nghèo. Cho nên thầy là người nghèo nhất thế giới này!"

Một câu chuyện nhỏ khác được thầy kể để minh họa về việc sử dụng tiền bạc.Thời thầy còn nhỏ, có một cô gái yêu một người, đến hỏi thầy: "Con lấy anh đó được không?" Thầy nhìn rồi nói thẳng: "Thằng này ti tiện hơn con, con lấy nó con chết." Nhưng cô gái đã yêu, không quên được, rồi cưới nhau.

Bốn năm sau, cô ấy quay lại chùa, dắt con, kể chuyện đã ly dị. Không gây gổ gì lớn, chỉ vì một việc đơn giản. Hai vợ chồng nghèo, sống cần kiệm. Một lần, cô về thăm ngoại hẹn ba ngày mới về, nhưng có việc quay về sớm. Bước vào nhà, thấy chồng mua một mâm cổ cực kỳ ngon, ngồi ăn một mình khi vợ đi vắng. Cô hiểu ra, nhớ lời thầy, rồi ly dị.

Thầy nói: "Khi có tiền, sử dụng cho riêng mình, ta thích thú nhưng đó là phàm phu, rồi thành tội. Khi có tiền, sử dụng hợp lý để nhiều người được lợi ích, niềm vui lan tỏa, đó là an lạc của thánh, và công đức tăng."

Cuối cùng, thầy nói về nỗi cô đơn lớn nhất của con người: "Không có ai thương mình, và mình cũng không thương được ai." Hạnh phúc là có ai đó để yêu thương và có ai đó yêu thương ta. Nhưng nếu tình yêu thương chỉ gói lại trong ít người, đó là vui của phàm phu. Nếu trải rộng ra nhiều người, vô lượng người, đó là an lạc của thánh.

"Hôm nay ta bước vào chùa, hiền lành, vui vẻ với nhau," thầy nói, "nhưng đó chưa phải là tình yêu thương thật sự, chỉ là lịch sự thôi. Ta phải tu đến lúc nào, giữa đám đông này, trái tim ta thật sự yêu thương được tất cả mọi người. Rồi khi về, mang trái tim đó đi yêu thương mọi người ở ngoài. Giữ mãi ngọn lửa yêu thương đó không cho tắt, đó là hạnh phúc của thánh."

Thầy kết thúc: "Người nào giữ được tâm từ bi đó không cho tắt, quả báo là một ngày đủ duyên, ta chứng chánh niệm tỉnh giác, tâm rỗng rang sáng suốt, và cái sáng đó khó mất. Vì tâm từ bi là nhân, tâm chứng ngộ của thánh là quả."

Buổi giảng kết thúc trong ánh chiều dần nhạt, nhưng trong lòng mỗi người dường như có một ngọn lửa mới được châm cháy – ngọn lửa của sự an lạc, bắt đầu từ việc buông bỏ cái "của ta" để nhận ra tất cả đều thuộc về nhau.

Ý nghĩa câu chuyện

Câu chuyện phân biệt rõ hai loại "vui": Vui của phàm phu dựa trên sự chiếm hữu, khoái trá cá nhân, thích thú vì được khen hay có quyền sai khiến – loại vui đó làm tâm loạn động, kiêu mạn và tạo nghiệp xấu. Vui của bậc thánh là an lạc, đến từ sự nhẫn nhịn, buông bỏ bản ngã, hiểu rằng mọi thành quả đều do nhiều duyên lành hợp lại, và sẵn sàng chia sẻ niềm vui đó cho tất cả mọi người. Sự khác biệt cốt lõi nằm ở tâm: nếu tâm còn chấp ngã, chấp công, chấp của cải thì dù sung sướng cũng là khổ luân hồi; nếu tâm buông bỏ, từ bi, hướng đến lợi ích chung thì dù trong hoàn cảnh nào cũng là an lạc giải thoát. Hiểu được điều này và thực hành trong đời sống hàng ngày – từ việc đến chùa ăn cơm đến việc sử dụng tiền bạc, từ việc đón tiếp người khác đến việc giữ lửa yêu thương – chính là bước đi trên con đường từ phàm lên thánh.

Biên soạn từ pháp thoại của TT. Thích Chân Quang

Chia sẻ & sao chép